MES LAB

MES LAB

MES LAB NETWORK

Mạng lưới chuyên gia Phát triển sản phẩm, Design Thinking và Đổi mới sáng tạo

Xác lập thông số sản phẩm như thế nào?

Estimated reading: 12 minutes 79 views
Xác lập thông số sản phẩm như thế nào?
Để xác lập thông số sản phẩm, người ta sẽ xuất phát từ nhu cầu khách hàng. Về cơ bản, sẽ có các bước sau: Xác lập thông số sơ bộ, Xác lập thông số cuối cùng. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét 2 bước này.
Bước 1: Xác lập thông số sơ bộ

Như đã nói, thông số sơ bộ là do nhóm thiết kế đặt ra để bước đầu “định hình” cho sản phẩm. Nó thể hiện tư duy chủ quan của các nhà thiết kế. Thông số này có được trên cơ sở phân tích nhu cầu khách hàng đã thu thập và đánh giá thông số của đối thủ cạnh tranh. Với dự án LED, bảng 6.1 thể hiện nhu cầu. Các đại lượng đáp ứng nhu cầu được thể hiện ở bảng 6.2. Bảng 6.3 biểu thị trọng số hợp nhất của Nhu cầu và Đại lượng.

Bảng 6.2. Các đại lượng đáp ứng các nhu cầu (được đánh số tương ứng số ở bảng 6.1)
Bảng 6.3. Trọng số thống nhất cho đại lượng và nhu cầu, ký hiệu từ 1 đến 5 dấu “*” (sao)
Bảng 6.1. Danh sách nhu cầu kèm theo trọng số của sản phẩm dự án LED
Hình 6.1. Biểu diễn quan hệ đại lượng – nhu cầu dạng ma trận.

Nhìn vào hình 6.1 chúng ta có thể thấy rằng mỗi nhu cầu có thể được đáp ứng thông qua nhiều đại lượng, và mỗi đại lượng có thể tham gia vào việc đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau.

Khi có được các giá trị độ lớn này, chúng ta sẽ có trong tay bộ “thông số sơ bộ” của sản phẩm. Thông thường, để xác định các giá trị độ lớn ban đầu này, các nhà thiết kế có thể dựa vào kinh nghiệm, hỏi ý kiến chuyên gia và đặc biệt là dựa vào việc phân tích thông số của chính các đối thủ cạnh tranh. Đối thủ cạnh tranh có thể hiểu là các sản phẩm của nhà cung cấp khác cùng phục vụ chức năng như sản phẩm của chúng ta, cùng hướng đến đối tượng khách hàng như chúng ta.

Một cách chung nhất, nhóm thiết kế có thể liệt kê các thông số tương ứng của các sản phẩm cạnh tranh vào bảng kê đại lượng. Từ đó, họ có thể đặt ra thông số cho mình. Minh họa được thể hiện trên bảng 6.4. Căn cứ vào dữ liệu thu được từ bảng 6.4, nhóm thiết kế chọn ra được các giá trị đại lượng (biên & lý tưởng)( Bảng 6.5) như sau:

“Benchmark” (đánh giá).

Việc so sánh với thông số của sản phẩm cạnh tranh sẽ giúp cho các nhà thiết kế dễ dàng đề ra thông số cho mình. Họ sẽ ưu tiên chọn thông số sản phẩm sao cho bộ thông số này sẽ thể hiện sự vượt trội của sản phẩm đang thiết kế so với những sản phẩm đang có. Công tác so sánh và đánh giá đối thủ này thường được gọi là “benchmark” (đánh giá).

“Giá trị biên” là khoảng giá trị mà sản phẩm còn đảm bảo tính cạnh tranh
“Giá trị lý tưởng” là đích ngắm mà nhóm thiết kế hướng đến. Các thông số này sẽ là tiền đề cho việc xây dựng concept ở bước tiếp sau.
Việc benchmark sản phẩm cạnh tranh

Việc benchmark sản phẩm cạnh tranh là rất cần thiết và không được phép bỏ qua trong tất cả các quá trình phát triển sản phẩm. Bởi vì trên cơ sở benchmark sản phẩm cạnh tranh, nhóm thiết kế định vị được “vùng thông số” của mình sao cho sản phẩm làm ra có thể cạnh tranh được với các sản phẩm đã có về mặt tính năng kỹ thuật. Nếu không có benchmark sản phẩm cạnh tranh, sản phẩm làm ra có thể sẽ rơi vào 1 trong 2 trường hợp: không có tính cạnh tranh về tính năng kỹ thuật (thua kém) hoặc thông số không tối ưu, gây lãng phí.

Bảng 6.4. Liệt kê thông số của các sản phẩm cạnh tranh. Số liệu mang tính ví dụ.
Bảng 6.5. Chọn thông số cho sản phẩm căn cứ vào việc benchmark ở bảng 6.4

Với bảng 6.4 và 6.5, thông qua việc benchmark sản phẩm cạnh tranh, các nhà thiết kế đã đưa ra được các thông số sơ bộ của sản phẩm định làm. Các thông số này sẽ là tiền đề cho việc xây dựng concept ở bước tiếp sau. Nếu chúng ta biểu diễn kết hợp các bảng dữ liệu 6.2, 6.3 và 6.5, chúng ta sẽ thu được bảng tổng hợp thể hiện thông tin đầy đủ về thông số sơ bộ của sản phẩm như biểu diễn trên bảng 6.6 ở trang bên (từ dự án LED).

Dự án LED

Với dự án LED, nhóm thiết kế đã tiến hành nhiều đo đạc, khảo sát, tính toán khác nhau, ví dụ như so sánh độ sáng của công nghệ LED so với các loại đèn dầu, nến,…(hình 6.2).

Bảng 6.6. Bảng tổng hợp về thông số sản phẩm từ dự án LED.
Hình 6.2. Benchmark phân bố ánh sáng (Lux) của LED so với đèn dầu, nến và đèn MiniLED.

Như đã nêu, thông số sơ bộ thu được từ đây sẽ được dùng để tạo mẫu concept – làm nên hình dáng ban đầu của sản phẩm. Tuy nhiên, đây không phải là thông số cuối cùng của sản phẩm. Sau khi chọn được mẫu concept và đi vào tính toán thiết kế chi tiết, nhóm thiết kế phải một lần nữa xây dựng các mô hình kỹ thuật và mô hình chi phí tương ứng để điều chỉnh và chọn ra thông số tối ưu (thông số cuối cùng).

Mô hình kỹ thuật
Mô hình kỹ thuật bao gồm mô hình vật lý và mô hình phân tích (toán).
Mô hình chi phí sản phẩm

Từ việc phân tích các mô hình kỹ thuật, nhóm thiết kế sẽ tìm ra được một vài bộ thông số đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật (và nằm quanh khoảng thông số sơ bộ đã đưa ra). Mỗi bộ thông số này tương ứng với chi phí sản xuất khác nhau. Đây là mô hình chi phí của sản phẩm. Mô hình chi phí xem xét đến nhiều yếu tố:

  • Danh mục vật tư (BOM)
  • Điều kiện gia công (dao cụ, khuôn mẫu)
  • Yêu cầu nhà xưởng,…
“Ngôi nhà Chất lượng” (House of Quality – HOQ)
Tất cả các thông số, quan hệ giữa đại lượng – nhu cầu, tầm quan trọng của mỗi đại lượng/nhu cầu, benchmark sản phẩm cạnh tranh,…đều có thể biểu diễn trên một sơ đồ thống nhất có tên “Ngôi nhà Chất lượng” (House of Quality – HOQ). Bạn đọc quan tâm có thể xem hình 6.3 ở trang bên.
Hình 6.3. Ngôi nhà Chất lượng – HOQ – thể hiện toàn bộ thông số sản phẩm. Nguồn hình: Bài giảng của MSLAB về sách của Ulrich và Eppinger.
Cuối cùng, nhóm thiết kế lập hồ sơ lưu lại toàn bộ quá trình xác định thông số kỹ thuật vào hồ sơ dự án và chuẩn bị chuyển sang bước tiếp theo: Tạo mẫu concept sản phẩm.

Leave a Comment

CONTENTS